
Tin tức
Dịch vụ đảm bảo là hành động cân nhắc, đối chứng những bằng chứng, tài liệu nhằm đưa ra một đánh giá khách quan về vấn đề quản trị, quản lý rủi do và các hoạt động vận hành của một tổ chức, doanh nghiệp. Đây là một trong hai nhiệm vụ quan trọng của quy trình kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam còn đang băn khoăn về tình hình chung về dịch vụ đảm bảo trong kiểm toán tại Việt Nam.
Dịch vụ kiểm toán của một báo cáo tài chính nhận được cấp phép có điều kiện theo những văn bản pháp luật đã quy định. Và được sử dụng trong tất cả doanh nghiệp không phân biệt quy mô hay loại hình doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp muốn đạt được đủ tiêu chuẩn để kinh doanh dịch vụ kiểm toán cần thực hiện đầy đủ các thủ tục.
Bản chất của các hoạt động kiểm toán khi được tiến hành trong doanh nghiệp cần được đề cập cụ thể rõ ràng trong kiểm toán nội bộ. Để có thể tăng độ tin cậy và chắc chắn khi thuê bên thứ ba cung cấp dịch vụ đảm bảo trong kiểm toán nên được định nghĩa trong những điều khoản của kiểm toán nội bộ.
Tại Việt Nam, những thông tin chính thống về các đơn vị kiểm toán độc lập có kinh doanh dịch vụ kiểm toán còn ít và các thông tin về các hoạt động này cũng chưa được nhận thức rõ bởi các doanh nghiệp. Vì vậy, hãy cùng Kiểm toán Việt Úc khám phá chi tiết hơn về Dịch vụ đảm bảo.
Xem thêm: Dịch Vụ Kế Toán Là Gì?

>> Xem thêm: Các Đối Tượng Bắt Buộc Phải Kiểm Toán Theo Quy Định Của Pháp Luật
Là một văn bản hợp pháp được ban hành bởi Bộ Tài chính kèm theo Thông tư số 69/2015/TT-BTC ngày 08 tháng 5 năm 2015.
Tại Việt Nam, hợp đồng dịch vụ đảm bảo cần ghi rõ những điều khoản cũng như quy trình thực hiện chính xác với các định hướng, kế hoạch. Bên cạnh đó, cần đảm bảo thỏa mãn chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA), chuẩn mực Việt Nam về hợp đồng dịch vụ soát xét (VSRE) và chuẩn mực Việt Nam về hợp đồng cam kết giữa hai bên.
Đây được xem là những chuẩn mực chung cần đáp ứng bởi dịch vụ đảm bảo.
Một báo cáo của dịch vụ đảm bảo sẽ không tự công bố rằng báo cáo của mình đã đạt chuẩn khuôn khổ mà pháp luật mà cần đảm bảo đã tuân thủ cũng như đề cập tới các điều khoản pháp luật liên quan. Một hợp đồng dịch vụ đạt chuẩn cần chứa các thông tin bao gồm mục tiêu, các nhiệm vụ, hướng dẫn thực hiện, phụ lục, chú thích và đảm bảo các định nghĩa đã được thống nhất với Khuôn khổ pháp luật tại Việt Nam về hợp đồng dịch vụ đảm bảo.
Đây không chỉ là nguyên tắc áp dụng cho dịch vụ đảm bảo trong kiểm toán đây được xem là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đối với bất kì nghiệp vụ kế toán hay kiểm toán:
Tính chính trực
Tính khách quan
Năng lực chuyên môn và tính thận trọng
Tính bảo mật
Tư cách nghề nghiệp
Nếu không đáp ứng những tiêu chuẩn cơ bản này, kiểm toán viên có thể vi phạm phải những mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng.
Chuẩn mực kiểm soát chất lượng hướng dẫn và quy định các nghĩa vụ của doanh nghiệp kiểm toán trong việc kiến tạo và giữ gìn chất lượng đối với một hệ thống kiểm định chất lượng liên quan tới hợp đồng dịch vụ đảm bảo. Tất cả những điều khoản liên quan đến kiểm toán cần được trình bày cụ thể bao gồm:
Trách nhiệm của Ban điều hành về chất lượng trong doanh nghiệp
Chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp
Chấp nhận và duy trì quan hệ khách hàng và các hợp đồng dịch vụ cụ thể
Nguồn nhân lực
Thực hiện hợp đồng dịch vụ
Giám sát
>>> Xem thêm: Kiểm Toán Báo Cáo Tài Chính Là Gì
Kiểm toán viên tiến hành ghi nhận cũng như xem xét các chứng cớ thích hợp để đưa ra đánh giá về mức độ đáng tin của người sử dụng, bên có trách nhiệm. Kết quả của dịch vụ đảm bảo sẽ công khai được mức độ đáp ứng của đối tượng sử dụng trên các tiêu chí đã được quy định. Kết quả rõ ràng có thể nhìn thấy được của một đối tượng dịch vụ đảm bảo là các nguồn tin được cập nhật từ việc tuân thủ các tiêu chí quy định trong khuôn khổ.
Báo cáo về năng suất của kiểm soát nội bộ là tổng kết và đánh giá tính hiệu quả xuyên suốt quá trình tiến hành kiểm soát nội bộ với hành động là tuân thủ các tiêu chí liên quan.
Một dịch vụ đảm bảo được đánh giá là hợp lý khi kiểm toán viên có thể tối thiểu mức đổ rủi ro tới thấp nhất hoặc là tới mức độ chấp nhận được. Ý kiến được đưa ra bởi kiểm toán viên cần sự khách quan và chứa yếu tố đánh giá của kiếm toán viên đối với kết quả đo lường dựa trên các tiêu chí.
Mức độ đảm bảo hợp lý hay còn gọi là chấp nhận được là mức độ mà ở đó làm gia tăng sự tin tưởng của người dùng với các thông tin của đối tượng dịch vụ đảm bảo, mức độ này nằm ở mức là không đáng kể. Mức độ đảm bảo chấp nhận được có thể nằm trong khoảng là mức độ đảm bảo tối thiểu đến ngưỡng thấp hơn mức độ đảm bảo hợp lý. Kiểm toán viên được yêu cầu vận dụng yếu tố chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm để xác định mức độ đảm bảo chấp nhận được.
Khuôn khổ này quy dịch không phải tất cả những dịch vụ được tiến hành bởi kiểm toán viên đều là dịch vụ đảm bảo. Cũng tồn tại những dịch vụ không phù hợp và không chịu những ảnh hưởng của Khuôn khổ này.
Ví dụ: Các dịch vụ tư vấn thuế, tư vấn nhân sự, vận hành quản trị doanh nghiệp.
Để nhằm đảm bảo phân biệt giữa báo cáo dịch vụ phi đảm bảo và báo cáo dịch vụ đảm bảo, giúp các đối tượng doanh nghiệp sử dụng không bị nhầm lẫn thì kiểm toán viên khi tham gia một kiểm toán trong dịch vụ đảm bảo cần chủ động tạo ra sự khác biệt. Mặc dù là những dịch vụ báo cáo phi đảm bảo nhưng vẫn cần đáp ứng những điều chỉnh thuộc Khuôn khổ này.
Kiểm toán viên sẽ là người chịu trách nhiệm hoàn toàn với việc sử dụng các nguyên tắc của Khuôn khổ được đề cặp tới trong một hợp đồng dịch vụ.
Các điều khoản được đề cập đến trong hợp đồng dịch vụ đảm bảo cần được phê duyệt cũng như đảm bảo có những điều sau:
Nhiệm vụ đóng góp, nghĩa vụ của các bên
Hợp đồng dịch vụ đảm bảo cần đề cập đến các yếu tố sau:
Đối tượng dịch vụ đảm bảo là ai? Có phù hợp hay chưa?
Tiêu chí đối với quá trình làm việc của kiểm toán viên
Những tiêu chí mà kiểm toán viên dự định áp dụng
Dự đoán khả năng thu thập và đưa ra bằng chứng
Kết luận của kiểm toán phải được trình bày bằng hình thức văn bản
Hợp đồng dịch vụ phải ghi rõ mục đích phù hợp
- Mỗi đối tượng sử dụng dịch vụ đảm bảo đều có sự khác biệt. Vì vậy, kiểm toán viên cần đảm bảo người cùng tham gia với mình có thể đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của dịch vụ.
- Người sử dụng/ thuê dịch vụ đảm bảo có quyền đổi một loại hình dịch vụ khác để nhằm đáp ứng đúng nhu cầu của mình.
- Hợp đồng dịch vụ phi đảm bảo hay đảm bảo cần được xác định rõ ràng ngay trước khi kiểm toán viên xác nhận thực hiện hợp đồng.

- Hợp đồng dịch vụ đảm bảo bao gồm các thành phần sau:
Mối quan hệ ba bên, gồm: kiểm toán viên (người hành nghề), bên chịu trách nhiệm và đối tượng sử dụng báo cáo dịch vụ đảm bảo;
Đối tượng dịch vụ đảm bảo phù hợp;
Tiêu chí phù hợp;
Các bằng chứng đầy đủ và thích hợp;
Báo cáo dịch vụ đảm bảo bằng văn bản theo hình thức phù hợp.
>> Xem thêm: Kiểm Toán Nội Bộ Là Gì? Mục Đích Và Chức Năng Cần Biết 2023
Mối Quan Hệ Ba Bên
- Mối quan hệ ba bên đề cập rõ đến 03 đối tượng là: Kiểm toán viên; Bên chịu trách nhiệm và Đối tượng sử dụng dịch vụ đảm bảo . Khuôn khổ này cũng quy định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên liên quan như sau:
Kiểm toán viên
- Được quy định là người thực hiện hợp động dịch vụ đảm bảo cùng với Ban giám đốc để hoàn thành tổng thể hợp đồng dịch vụ này. Cần vận dụng những chuyên môn, năng lực của mình để đảm bảo tính pháp lý cho hợp đồng dịch vụ đảm bảo.
- Khi tiến hành một hợp đồng dịch vụ đảm bảo trực tiếp thì kiểm toán viên là người thực hiện việc đo lường và đánh giá đối tượng dịch vụ để nhằm đưa ra báo cáo xác thực nhất.
- Kiểm toán viên cần đáp ứng những chuẩn mực cơ bản của nghề kiểm toán.
- Kiểm toán viên cần hiểu rõ một hoàn cành hay xuất phát của một hợp đồng dịch vụ trước khi chấp nhận thực hiện hợp đồng dịch vụ đảm bảo đó. Khi đã chấp nhận thực hiện cần tham gia đầy đủ đảm bảo trách nhiệm với thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo. Vì kiểm toán viên sẽ là người chịu trách nhiệm trước pháp luật với những đánh giá mà kiểm toán viên đưa ra.
Bên chịu trách nhiệm
- Cần quy định rõ trong một hợp đồng dịch vụ ai là người chịu trách nhiệm cho các hoạt động đo lường với thông tin của đối tượng sử dụng dịch đảm bảo. Bên chịu trách có thể là kiểm toán viên người thực hiện kiểm toán dịch vụ đảm bảo hoặc là bên thuê dịch vụ.
Đối tượng sử dụng báo cáo dịch vụ đảm bảo
- Đối tượng này có thể là một cá nhân, tổ chức hay là một nhóm. Bên chịu trách nhiệm có thể là một trong số này, có thể có nhiều hơn một đối tượng chịu trách nhiệm.
- Đối tượng sử dụng báo cáo dịch đảm bảo hoặc người đại diện có thể tham gia cùng với kiểm toán viên hoặc không. Nhưng điều này cần quy định rõ trong hợp đồng dịch vụ đảm bảo. Nếu các đối tượng có tham gia vào thì cũng cần đảm bảo đáp ứng đúng kế hoạch mà kiểm toán viên đã nêu ra.
Đối tượng của một dịch vụ đảm bảo có thể tồn tại dưới nhiều hình thức. Ví dụ như: đo lường về tình hình tài chính trong quá khứ hoặc tương lai, công suất hoạt động của nhà máy,..
Mỗi đối tượng của dịch vụ đảm bảo sẽ có những thuộc tính khác nhau. Sự phù hợp là linh động cho mỗi đối tượng vụ đảm bảo.
- Là những đặc điểm nhằm đánh giá bao gồm: sự phù hợp, sự đầy đủ, mức độ đáng tin cậy, sự khách quan và yếu tố đơn giản, dễ hiểu.
- Những đánh giá chỉ mang yếu tố chủ quan hay dựa trên kinh nghiệm, hiểu biết của một cá nhân được đánh giá là không phù hợp. Trước khi tiến hành đánh giá cần công khai các tiêu chí này một cách minh bạch, rõ ràng.
Trong quá trình làm việc và thu thập các bằng chứng, kiểm toán viên cần cân nhắc các yếu tố sau:
Sự hoài nghi về nghề nghiệp: Kiểm toán viên cần có có thái độ cảnh giác trước các vấn đề như sự thống nhất, liên kết chặt chẽ của các bằng chứng; các tình huống có thực hiện bổ sung hay các yếu tố có khả năng cao xảy ra sai sót. Tuân thủ, duy trì thái độ hoài nghi xuyên suốt quá trình làm việc. Xem xét độ đáng tin cậy của các chứng từ, tài liệu.
Sự xét đoán chuyên môn: Kiểm toán viên vận dụng khéo léo, linh hoạt đối với mỗi tình hình và hoàn cảnh thực tế để nhằm đưa ra được một báo cáo, đánh giá xác đáng nhất.
Tính đầy đủ và thích hợp của bằng chứng: Việc xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng từng bằng chứng đã đúng hay phù hợp chưa nhằm giúp tăng sự đáng tin cậy cho những kết luận sau cùng của kiểm toán viên.
Mức trọng yếu: Được cân nhắc để nhằm lên được một kế hoạch, quy trình thực hiện hợp đồng dịch vụ đảm bảo không có sai sót.
Rủi to hợp đồng dịch vụ đảm bảo: Thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo có thể không được phản ánh một cách đầy đủ trong mối quan hệ giữa đối tượng dịch vụ đảm bảo với các tiêu chí, từ đó dẫn đến những sai sót có thể tiềm ẩn hoặc nghiêm trọng. Kiểm toán viên có nhiệm vụ giảm thiểu mức độ rủi ro đến mức bằng không hoặc mức có thể chấp nhận được.
Kết luận của một kiểm toán viên cần được hình thành dựa trên các bằng chứng thu thập được và sự đo lường quá trình kiểm toán. Kiểm toán viên cần cấp một văn bản thể hiện những đánh giá của mình. Tiêu chuẩn để kiểm toán viên đo lường và đánh giá là các chuẩn mực của Việt Nam được quy định rõ. Kiểm toán viên có quyền đưa ra các kết luận của mình về kết quả và việc đo lường, đánh giá.
- Có thể lựa chọn "báo cáo dạng ngắn" hoặc báo cáo dạng dài. Tùy thuộc vào sự thuận tiện trao đổi giữa các bên.

Các vấn đề khác được quy định trong khuôn khổ này nhằm đảm bảo sự chính xác cũng như phù hợp bao gồm:
Trách nhiệm đối với việc trao đổi thông tin: được phép trao đổi nhưng cần quy định rõ trong hợp đồng dịch vụ đảm bảo và được sự đồng thuận từ các bên liên quan.
Tài liệu, hồ sơ liên quan đến hợp đồng dịch vụ: hồ sơ cần rõ ràng, dễ hiểu để cho các đối tượng không tham gia hợp đồng dịch vụ cũng có thể hiểu được. Bao gồm cụ thể: nội dung, kế hoạch hay các phạm vi của hợp đồng dịch vụ; cập nhật kết quả báo cáo thu được;...
Việc sử dụng không hợp lý tên của kiểm toán viên: Kiểm toán viên cần có sự đồng ý trước khi các bên liên quan sử dụng tên của kiểm toán viên với các đối tượng dịch vụ đảm bảo.
IPFF (International Professional Practices Framework) đã định nghĩa về hai khái niệm này như sau:
Dịch vụ đảm bảo là việc kiểm toán viên tiến hành đánh giá khách quan các chứng cứ được thu thập nhằm đưa ra một đánh giá độc lập về quá trình hoạt động, những rủi ro tổ chức có thể gặp phải.
Dịch vụ tư vấn bản chất là đưa ra những dự định, lời khuyên giúp khách hàng tạo ra các giá trị mang tính cải thiện, giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, hoạt động tư vấn không can thiệp trong quá trình thực hiện kiểm toán nội bộ.
Dịch vụ đảm bảo và tư vấn là các nhiệm vụ trọng tâm của quy trình kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên, chúng khác nhau và nên được phân biệt:
Đối tượng tham gia
Dịch vụ đảm bảo bao gồm 3 bên liên quan là người sử dụng dịch vụ; kiểm toán viên và nhóm người sử dụng những kết quả đánh giá đó.
Tư vấn: nhóm đưa ra tư vấn, đánh giá và khách hàng (người sử dụng dịch vụ).
Chức năng
Hoạt động tư vấn giúp người sử dụng có được những cải tiến, phát triển.
Dịch vụ đảm bảo chỉ đưa ra đánh giá về những gì đã diễn ra trong quy trình kiểm toán nội bộ.
Nhằm tối đa hóa nhiệm vụ và tác dụng của hai quy trình trên, hai hoạt động nên được triển khai theo hình thức đảm cho nhau. Tư vấn cần cân nhắc các đánh giá phù hợp để không ảnh hưởng đến dịch vụ đảm bảo. Có thể thực hiện chương trình tích hợp cả hai hoạt động nhưng cần đảm bảo là hai hoạt động hỗ trợ lẫn nhau chứ không loại trừ lẫn nhau.
Bên thực hiện dịch vụ kiểm toán đảm bảo có thể đồng thời cung cấp dịch vụ tư vấn, hãy liên hệ Kiểm toán Việt Úc để được hỗ trợ đảm bảo cả hai hoạt động.
Hotline: 0848 770 777